☯ [Dịch Lý – Giao Dịch XH] CƠ CẤU XÃ HỘI THIÊN NHIÊN phần 1 (Gồm 2 phần)

0
431

☯ [Dịch Lý – Giao Dịch XH]

CƠ CẤU XÃ HỘI THIÊN NHIÊN

Để môn Giao Dịch Xã Hội của Thái sư phụ được truyền bá rộng rãi nay Vưu Thanh xin Gửi Nguyên văn các bài của Thái sư phụ về môn này.

Trích: Kinh dịch xưa và nay, Tác giả: Nam Thanh Phan Quốc Sử.

Khoa Dịch Lý, như ta đã biết, là một khoa học nghiên cứu, truy tầm cho vỡ lẽ cái lý do tại sao Vạn hữu biến hóa hóa thành.

Trải qua quá trình tư duy thực nghiệm dầy dặn công phu chắc lọc sáng tạo của biết bao con người trí tuệ Cổ Kim Đông Tây, đến nay Trí Tri Ý Thức chung của Nhân loại đã thẳng thắn quả quyết chấp nhận yếu lý Đồng Nhi Dị (giống mà hơi khác) tức Âm Dương Lý là nguồn gốc, là nguyên nhân đầu tiên cấu tạo hóa thành muôn loài vạn vật, bất kể vô hình hữu hình.

Muôn vật từ Lý mà ra

Muôn vật về đến Lý là cùng, là hết

Đồng Nhi Dị là chân lý tuyệt đối, là Lý Biến Động, Biến Đổi, Biến Hóa, Hóa Thành mọi sống động, động tĩnh vô hữu, gọi tắt là Dịch Lý, danh chính lý nhất là Tiên Hậu Thiên Trí Tri Ý Thức, danh quen dùng Âm Dương Lý.

Khi vào phạm vi Xã Hội Thiên Nhiên Xã Hội Âm Dương, một lần nữa ta cần thống nhất quan điểm về Âm Dương thì mới có thể bàn luận tiến sâu vào cơ cấu nhiệm nhặt hơn.

  1. ĐỊNH RÕ NGHĨA LÝ ÂM DƯƠNG:

                                          Là LÝ ĐỒNG NHI DỊ – DỊ NHI ĐỒNG

Âm Dương: là danh từ dùng để chỉ chỗ Giống mà Hơi Khác: Đồng Nhi Dị – Dị Nhi Đồng có khắp nơi muôn loài vạn vật.

Đồng:tuyệt đối, là cái Một, là tổng thể, là Tập Hợp gồm cả Âm Dương. Vậy Đồng là Âm Dương Tuyệt Đối.

Dị:tương đối, là cái Hai, là cơ cấu, là thành phần, là có so sánh phân biệt.

Ở trong một sự lý hoặc giữa hai sự lý có:

Giống mà hơi hơi khác             =   Khác mà quá quá giống.

Giống mà hơi khác                   =   Khác mà quá giống.

Giống mà khác                         =   Khác mà giống.

Giống mà quá khác           =   Khác mà hơi giống.

Giống mà quá quá khác           =  Khác mà hơi hơi giống.

Bất kể trạng thái hiện tượng phạm vi nào cũng đều có Đồng Dị và mức độ Đồng Dị nhiều ít cũng khác nhau.

Vậy:

Dị Âm Dương Tương Đối

Đồng Dị – Dị Đồng Âm Dương Thiên Cực.

Đồng Nhi Dị – Dị Nhi Đồng Âm Dương Dịch Biến.

Đồng Nhi Dị ở phạm vi:

  • Phân tích: là Lý Một Mà Có Hai  – Hai Mà Có Một
  • Ẩn hiện: là Lý Một Mà Hai  – Hai Mà Một
  • Lý chứng: là Lý Một Là Hai  – Hai Là Một . (Vô hữu lý).

Chân lý Đồng Nhi Dị – Dị Nhi Đồng là sự thật muôn đời nên không bao giờ có vấn đề Đồng hoàn toàn hay Dị hoàn toàn, Âm hoàn toàn hay Dương hoàn toàn.

Người xưa sợ đời sau không hiểu được lý Đồng Dị cùng lúc, Âm Dương cùng lúc, nên phải nhấn mạnh phân tích thêm là trong Âm Dương, trong DươngÂm, trong Đồng Dị, trong Dị Đồng. Chẳng qua là muốn chỉ về lý lẽ: Âm là manh nha Dương, Dương là manh nha Âm, hoặc Âm là Dương, Dương là Âm – tức chiều hướng biến hóa luôn luôn là thiên cực từ Đồng đến Dị, từ Dị về Đồng. Chỗ nào gọi là Đồng là đã có manh nha Dị, chỗ nào Dị là đã có manh nha Đồng. Để khi Đồng đến cực độ thì manh nha Dị cũng đến cực độ mà hóa ra cả hai đều cực biến theo chiều hướng hiện – hoặc Dị cực biến theo chiều tiêu ẩn thì Đồng cực biến theo chiều trưởng hiện, hoặc ngược lại.

Âm Dương Đồng Dị biến hóa vô cùng nhiệm nhặt nên không thể xác định dứt khoát đâu là Âm đâu là Dương, đâu là Đồng, đâu là Dị. Đồng là Dị, Dị là Đồng thì mới chính lý, mới hữu lý cho tất cả mọi người và muôn vật.

Tóm lại, định rõ nghĩa lý Âm Dương là Đồng Nhi Dị như trên thì lúc nào ở đâu ta cũng dễ dàng nhận thức được Âm Dương – Còn bất cứ định ý nghĩa nào khác cho Âm Dương đều là hạn hẹp, cục bộ, triết lý vùng, không xứng đáng cho danh vị chí tôn của Âm Dương là một phi thường Danh.

  1. PHẠM VI TÌNH LÝ ÂM DƯƠNG: PHẠM VI ÂM DƯƠNG

Con người và muôn vật lúc nào cũng đi trong lý lẽ Âm Dương vừa tuyệt đối vừa tương đối như trên, chớ không như một số học thuyết viễn vông, tưởng tượng ra cái chẳng phải Âm, chẳng phải Dương, phi Âm, phi Dương, thuần Âm, thuần Dương…

Xét cho cùng những cái Bất, Phi, Vô, Thuần Âm Dương gì đó cũng chỉ là Đồng Nhi Dị – giống mà hơi khác nhau của Ý, của Sự, của Lý Vô Hữu Động Tĩnh mà thôi, tức cũng trong vòng Âm Dương Ý, Âm Dương Sự, Âm Dương Vật, Âm Dương Lý, rồi tùy theo mỗi lúc nhìn thấy được gì người ta tưởng là mới lạ bèn hứng khởi đặt tên khác, gây nhiều sự ngộ nhận đáng tiếc.

Âm Dương Động Tĩnh Biến Hóa Đồng Dị cực kỳ nhanh chậm,tiêu trưởng ẩn hiện sinh khắc vô cùng, mờ tỏ, khiến cho trí thức nhân loại lúc sáng, tối, rối, loạn trí. Có lúc hoài nghi cả những sự thật hiển nhiên hoặc trốn chạy sự thật để đắm chìm trong mộng ảo, mơ ước cảnh giới nào đó bất sinh bất diệt, vĩnh cửu đời đời ngoài Lý Âm Dương.

Cái cực lạc, bình an, hạnh phúc mộng mị đó chỉ là liều thuốc an thần giả tạm để họ tự dối mình trong cơn mê – khi tỉnh dậy toàn thân họ càng ê ẩm đớn đau hơn – vì thực tế vẫn là thực tế. Họ đâu có biết cực lạc, bình an, hạnh phúc lúc nào cũng hiện hữu ở thực tế trần gian, ở cùng lúc chung lộn với đắng cay, bất ổn, đau buồn, chỉ có yếu lý Đồng Nhi Dị mới là bất sinh bất diệt mới là toàn năng Tạo Hóa ổn định, mới là linh thiêng mầu nhiệm, huyền diệu ban phước giáng họa muôn loài. Vậy không thể và không nên chạy trốn sự thật, tự đánh lừa đời mình mà hãy đối diện chấp nhận thực tế cuộc đời dù nó phủ phàng hay không rồi bạn sẽ thấy niềm vui, thật vui trong đó.

Để các bạn quen dần với cái học Âm Dương, bước đầu chúng tôi tập các bạn biết cách xác định phạm vi Âm Dương. Khi bạn đã thành thạo bất cứ lúc nào, ở đâu cũng xác định được phạm vi Âm Dương thì cũng là lúc bạn hiểu được tính qui ước nhất thời của Âm Dương và không còn chấp Âm là gì, Dương là gì theo hậu thiên học nữa.

+  ĐỊNH PHẠM VI ÂM DƯƠNG:

Tuy Âm Dương là lý tuyệt đối khắp cùng, nhưng khi ở mỗi sự vật việc, ta vẫn có thể xác định theo qui ước tương đối: đâu là Âm, đâu là Dương. Muốn vậy, ta áp dụng Nguyên lý Định Danh (Đặt Tên)

Trước hết phải có phạm vi (Sự lý) và xác định phạm vi sự lý đó đang được đề cập tới, chứ không phải phạm vi sự lý khác.

Phạm vi là giới hạn, ranh giới, khung cảnh, tổng thể, tập hợp, bao hàm, là cái Đồng, cái Một, là Xã Hội

Thí dụ có sự lý là Ánh Sáng thì Ánh Sáng Phạm Vi Tình Lý đang thời đề cập xác định, ta chỉ luận bàn trong vấn đề Ánh Sáng mà thôi không lẫn lộn qua phạm vi khác, vấn đề khác như nước, lửa, người…

* Bất cứ phạm vi nào cũng đều là phạm vi Âm Dương nên xác định phạm vi tức là xác định phạm vi Âm Dương nghĩa là phạm vi (sự lý) đó có hàm chứa Đồng Nhi Dị – giống mà hơi khác trong bản thân nó.

Thí dụ phạm vi Ánh Sáng thì có cường độ giống mà hơi khác, mà ta gọi là Sáng và Tối là Âm Dương. Nếu Đồng là Sáng thì sáng và sáng hơn là Âm Dương, nếu Đồng là Tối thì Tối và tối hơn là Âm Dương.

* Tùy theo qui ước khi so sánh phân biệt chỗ Đồng Dị nơi sự lý mà ta ấn định là Âm, là Dương – và khi chấp nhận qui ước nào thì cứ theo qui ước đó mà suy luận – khi qua phạm vi khác ta lại có qui ước mới phù hợp với tình lý mới, tức định lại Âm Dương.

Thí dụ: người ta thường qui ước cho rằng: Âm là cái gì thuộc trước, tĩnh, nhỏ, tối, mềm… Dương là cái gì thuộc sau, động, lớn, sáng, cứng… Vậy ở phạm vi Sáng Tối thì Sáng là Dương, Tối là Âm; ở phạm vi Sáng thì sáng nhiều là Dương, sáng ít là Âm, ở phạm vi Tối thì tối mờ mờ là Dương, tối mịt là Âm.

Vậy:       Sáng là Dương mà cũng là Dương/Âm

               Tối là Âm mà cũng là Âm/Dương.

* Một sự lý vừa có thể Âm, vừa có thể Dương mà cũng không phải là Âm, không phải là  Dương – vì nó chính là Âm Dương cùng lúc, nên Âm là Dương, Dương là Âm – Ta gọi nó là Âm cũng được, gọi nó là Dương cũng được. Quan trọng là ta đã căn cứ vào lý lẽ tiêu chuẩn nào để định là Âm hay Dương.

Chứ đừng quen thói nói Nam là Dương, Nữ là Âm, mà phải hỏi tại sao, lấy lý gì cho Nam là Dương, Nữ là Âm. Có phải theo tiêu chuẩn động, tĩnh, mạnh yếu, khôn ngu… chăng? Có chắc Nữ nào cũng tĩnh, yếu, nhu hơn Nam chăng? Hay Nam không có tĩnh, yếu, ngu sao?

Vậy đúng lý Nam là Dương Âm Dương, Nữ là Âm Dương Âm – và đúng hơn nữa Nam là Âm Dương, Nữ là Âm Dương thì không ai cãi được – vì đúng quá rồi còn gì.

Đa số hiểu chết nghĩa, không biết tên là qui ước được lý, bởi có so sánh Đồng Dị ở một phạm vi Âm Dương nào đó mà thôi. Bởi thế, họ thường chấp Danh, chấp Tình, chấp Ý, chấp Lý, chấp đủ thứ là một tệ nạn lớn làm cản trở đường họ thấu đạt chân lý Đồng Dị Biến Hóa.

Tóm lại nơi nào có Đồng Dị là có Âm Dương – khắp cả đều Đồng Dị thì khắp cả là Âm Dương. Chí lý thay!

Hiểu biết này giúp Ta phá chấp, tránh được chuyện: Trông là lầm; Nghe là lạc, Hiểu là sai. Ta sẽ hiểu đúng và sâu sắc:

Âm Dương không là gì cả

Âm Dương là cái gì đó

Âm Dương là tất cả

Âm Dương cùng lúc chung cùng

Âm ẩn Dương hiện, Dương ẩn Âm hiện

Âm tiêu Dương trưởng, Dương tiêu Âm trưởng

 

Trong Âm có Dương, Trong Dương có Âm.

Âm là manh nha Dương, Dương là manh nha Âm

Âm là Dương, Dương là Âm

Âm đâu Dương đó, Dương đâu Âm đó

Đồng đâu Dị đó, Dị đâu Đồng đó

Đại Đồng, đại Dị; tiểu Đồng, tiểu Dị.

Đại Đồng, tiểu Dị; tiểu Đồng, đại Dị

Trong giao dịch Xã Hội, Động Tĩnh là Âm Dương, Suy Vượng là Âm Dương, Sinh Khắc là Âm Dương, Chủ Khách, Thể Dụng, Vô Hữu, Chân Giả, Họa Phước, Ngu Khôn, Ấm lạnh là Âm Dương …

Nay ta nghiên cứu làm vỡ tung mối quan hệ giao dịch giữa Đồng Dị Âm Dương là cơ cấu của mọi xã hội, bằng như ta vén khăn che mặt của Tạo Hóa, thấu rõ tổ chức cơ mật của Trời Đất, của tổ chức cơ thể, sinh thái xã hội người, vật hay bất kể thứ gì. Vậy là học một mà biết muôn trùng.

biết đúng thì mới mong hành đúng – Tri Hành đúng thì mới mong thành công cao độ tối ưu – Tri Hành đúng hoài hoài là thành công không bao giờ thất bại.

Muốn Tri Hành thành công thì bạn phải chịu khó học hỏi kiên trì đến khi nào bạn thấy y như lời chúng tôi nói, không sai.

Trích: Kinh dịch xưa và nay, Tác giả: Nam Thanh Phan Quốc Sử.

  • LUẬT ÂM DƯƠNG CUNG CẦU THỪA THIẾU:

 

ÂM DƯƠNG TƯƠNG ĐỘNG, TƯƠNG GIAO,                                

TƯƠNG CẢM, TƯƠNG SINH THÀNH

Âm manh nha động sang Dương

Dương manh nha động sang Âm

Âm Dương cùng manh nha động nên gọi là Tương Động.

Khi hội đủ cơ duyên, chúng gặp nhau, giao tiếp nhau gọi là Tương giao.

Khi chúng giao nhau ắt có sự san xẻ tiện lợi hại lẫn cho nhau ít nhiều sao đó, gọi là Tương cảm.

Khi chúng đi lại san xẻ sự tiện lợi hại lẫn nhau ắt chúng phải hóa sinh Bộ Mặt Mới sao đó, gọi là Tương Sinh (Thành).

Tương động – Tương giao – Tương cảm – Tương sinh thành

NHẤT ÂM + NHẤT DƯƠNG  CHI VỊ ĐẠO = CON ĐƯỜNG BIẾN DỊCH. Lý do tại sao Âm Dương phải giao dịch, không giao dịch được không? –Sở dĩ Âm Dương phải giao dịch với nhau là vì tự bản thân chúng có nhu cầu qua lại với nhau nên gọi là Tương cầu.

Đây là định luật để Âm Dương sinh hóa, gọi là Luật Âm Dương Cung Cầu Thừa Thiếu.

Chúng Cầu gì ở nhau?

Âm hoặc Dương Cầu tìm tri âm nào có khả năng Cung cấp, chia xẻ sự thừa thiếu. Thí dụ: bên lở bên bồi, nước chảy về chỗ trũng. Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu. Vật đồng loại hội tụ. Đồng bệnh tương lân – Quân với tướng, giàu với nghèo, sáng với tối, nam với nữ, đực với cái, nhà với cửa, rồng với mây, đạo với đời, chiến tranh với hòa bình, họa với phước…

  • Nên nhớ: Cầu tìm cung, cung tìm cầu – cung cầu là Âm Dương. Cung cầu cũng có chân giả, ở đây ta chưa nói tới.

–  Phải hiểu: Âm cầu Dương, Dương cũng cầu Âm, chứ không chỉ riêng cái này cầu mà cái kia không có cầu lại ít nhiều nên mới nói là tương cầu.

Cung cầu cũng giống mà hơi khác nhau theo lẽ Đồng Nhi Dị nên mức độ cung cầu vào mỗi thời điểm thay đổi biến hóa linh động ít nhiều. Do đó cung cầu vừa mang tính nhất thời vừa đa dạng và phức tạp.

Sở dĩ cái này cầu cái kia là do cái kia có sức cung thỏa mãn ít nhiều cho nó. Nếu không có cung thì chẳng có cầu, không có cầu thì chẳng có cung.

* Bên cung cũng phải tìm cầu, nếu không sẽ bị dư thừa ùn tắc, tức cung cũng phải cầu.

* Bên cầu muốn được cung thì cũng phải cung cái gì đáp lại, chứ ai cho không bao giờ, nên cầu cũng phải cung.

Vậy cả hai bên cung cầu đều phải lo có khả năng đáp ứng đền bù xứng đáng, là thủ tục cung cầu đầu tiên để có được cung cầu thật sự.

Có trường hợp cung giả hoặc cầu giả nghĩa là không có khả năng cung hay cầu mà lầm tưởng hay cố tình dối gạt là có khả năng đó.

Có khi chính đương sự cũng không biết mình có sức cung cầu thừa thiếu như thế hoặc hiểu rất lờ mờ về khả năng, tiềm năng, giá trị của mình, của người. Phải đợi khi cơ duyên hay tri âm khơi dậy, gợi ý mới biết. Vì không ý thức hay trị giá đúng mức khả năng cung cầu của mình hay đối tượng nên thường bị lầm lỡ cơ hội giao dịch cung cầu đúng lúc.

Bởi thế, khi giao dịch muốn thành công tốt đẹp phải năng Chiết Tính Tình Ý sâu rộng về tiềm năng Đức, Tài, Tư của ta và kẻ khác – trước khi, trong khi và sau khi hành sự. Biết mình, biết người trăm trận trăm thắng là vậy.

Cái biết này không phải dễ dàng vì cung cầu thừa thiếu, động tĩnh chân giả trùng trùng điệp điệp vây phủ chồng chất lên nhau. Nếu không thận trọng, từng trải chưa chắc đã biết đúng thật. Chẳng hạn có lúc chính ta cũng không biết ta đang có gì, cần gì, muốn gì, nói gì, làm gì… chứ chưa nói là kẻ khác.

Tuy nhiên, muôn loài dù có ý thức hay không ý thức về cung cầu, có muốn hay không muốn giao dịch vẫn bắt buộc phải cung cầu, giao dịch, sống động hấp dẫn theo nhiên tính đầy ma lực linh thiêng huyền diệu mầu nhiệm, đừng hòng giải thoát trốn chạy. Ta không tìm nó thì nó vẫn tìm ta. Cấm sao được.

Đã nói là Nhiên Tính của Tạo Hóa, của Thiên Nhiên Xã Hội nên nó trở thành định luật bắt buộc phải vậy, đúng vậy. Đó là Luật Âm Dương Cung Cầu.

Âm Dương tự chúng có ái lực với nhau, hấp dẫn nhau, lôi cuốn quấn quít nhau bằng nhiều kiểu cách, có khi mãnh liệt, kỳ lạ, lắc léo, oái oăm không sao cưỡng chế nổi, không sao lường được.

Ái lực hấp dẫn cung cầu là động cơ nguyên phát, là cơ sở để có giao dịch biến hóa. Ái lực này có cùng lúc với Tạo Hóa, cùng lúc với yếu lý Đồng Nhi Dị, cùng lúc với Biến Hóa đầu tiên là Không-Hoàn Toàn Không Cực.

Âm Dương cung cầu là nguyên động lực tự có, tự phát trong bản thân của Âm Dương, chớ không phải từ bên ngoài hoặc từ đâu cả – nên nói Âm Dương có khả năng tự hóa.

Cái lực đầu tiên khiến cho Không-Hoàn Toàn Không Biết Cực là Vô Cực Đức Tánh, là uyên nguyên của mọi ái lực về sau làm cho vạn vật hấp dẫn biến dịch.

Lẽ Biến Dịch đã có lâu rồi, có trước Tôi – Con Người và muôn vật, nó cấu tạo hóa thành tất cả vũ trụ. Tôi – Con Người Hậu Thiên dù muốn dù không cũng phải chấp nhận nguồn gốc tổ tiên mình và muôn loài là Dịch Lý, vì không thể phủ nhận, thì đương nhiên cũng phải biết ơn Luật Âm Dương Cung Cầu do nó có Ái Lực Hấp dẫn Vũ Trụ Dịch Biến – Hóa Thành ra Tôi-Con Người và mọi cái Tôi khác.

Trích: Kinh dịch xưa và nay, Tác giả: Nam Thanh Phan Quốc Sử.